Greg Norman Golf Course Design

Premier Golf Course Design & Architecture – Golf Designers & Architects.

Tỉnh / Thành phố
Tỉnh
Tên địa danh
Hưng Yên
Dân số (Tháng 6/2025)
3.567.943 người

Tổng quan

Du lịch Hưng Yên – hành trình khám phá miền đất di sản

Hưng Yên là điểm đến hấp dẫn của vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi hội tụ kho tàng văn hóa – lịch sử phong phú. Với hơn 3.700 di tích, trong đó có 06 di tích quốc gia đặc biệt, 284 di tích cấp quốc gia, cùng 10 bảo vật quốc gia và 28 di sản văn hóa phi vật thể, Hưng Yên được ví như “bảo tàng sống” của văn minh lúa nước sông Hồng.

Không gian văn hóa Phố Hiến – từng là trung tâm giao thương quốc tế sầm uất thế kỷ XVI–XVII, nổi tiếng với câu ca “Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”, mang đến cho du khách trải nghiệm độc đáo: vừa cổ kính, vừa gắn liền với làng quê Bắc Bộ, nghệ thuật chèo, tín ngưỡng dân gian và lễ hội nông nghiệp.

Làng nghề truyền thống: Hưng Yên có tới 257 làng nghề, nổi bật với nghề chạm bạc, dệt đũi, thêu thùa, làm hương, trồng hoa cây cảnh… Đây không chỉ là nơi lưu giữ tinh hoa thủ công mà còn là điểm đến lý tưởng cho du lịch trải nghiệm.

Du lịch sinh thái – nghỉ dưỡng: Hưng Yên kết nối thuận lợi với hệ sinh thái ven biển Đông Nam, du khách có thể kết hợp hành trình khám phá Cồn Đen, Cồn Vành, Đồng Châu cùng rừng ngập mặn, tận hưởng không gian nghỉ dưỡng cuối tuần.

Ẩm thực và đặc sản: Nhắc đến Hưng Yên không thể bỏ qua nhãn lồng Hưng Yên, bánh cáy làng Nguyễn, hay canh cá Quỳnh Côi – những món ăn dân dã nhưng đậm đà hồn quê, làm say lòng thực khách.

Những sân golf nổi bật

Hưng Yên hiện chưa có sân golf. Hãy cùng chờ đón các dự án sân golf mới tại tỉnh thành xinh đẹp này trong tương lai nhé!

Những địa điểm không thể bỏ qua

Khu di tích Quốc gia đặc biệt Phố Hiến

Nếu có dịp đến với Hưng Yên, du khách nhất định không nên bỏ qua Khu Di tích Quốc gia Đặc biệt Phố Hiến, để cảm nhận những giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật phong phú, độc đáo, ghi dấu một thời của “Tiểu Tràng An” – nơi đã từng là thương cảng quốc tế sầm uất nhất ở miền Bắc Việt Nam thế kỷ 16-17, “chốn phồn hoa đô hội,” cũng là nơi hội tụ, giao thoa của nhiều nền văn hóa. Khi kinh thành Thăng Long có 36 phố phường thì Phố Hiến có hơn 20 phường thị, nức tiếng với câu ca “Thứ nhất Kinh Kỳ, Thứ nhì Phố Hiến.”

Quần thể Di tích Phố Hiến được công nhận là Di tích Quốc gia Đặc biệt năm 2014, gồm 16 di tích tiêu biểu hợp thành, tiêu biểu gồm có Văn Miếu Xích Đằng, chùa Chuông, Đền Mẫu, đình- chùa Hiến, chùa Phố, cùng rất nhiều ngôi chùa đền có kiến trúc độc đáo, ấn tượng, mang bản sắc không thể trộn lẫn.

Điểm đến đầu tiên là đền Mẫu cạnh hồ Bán Nguyệt, phường Quang Trung, với vẻ đẹp cổ kính và sự hợp thân thành thế kiềng ba chân của ba cây cổ thụ Đa, Xanh, Si với hơn 700 năm tuổi khiến không gian ngôi đền càng thêm huyền bí, linh thiêng.

Một điểm đến tiếp theo không thể bỏ qua là Văn Miếu Xích Đằng thuộc phường Lam Sơn, được khởi dựng từ thời Lê (thế kỷ thứ 17), là biểu tượng tôn vinh truyền thống hiếu học của người Hưng Yên, là nơi tập trung tinh hoa, trí tuệ, thể hiện tinh thần tôn sư trọng đạo của người Hưng Yên xưa và nay. Hiện Văn Miếu Xích Đằng còn lưu giữ hiện vật quý, tiêu biểu là 9 tấm bia đá ghi danh 161 vị đỗ đại khoa của trấn Sơn Nam xưa – là những tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh được chạm khắc hoa văn phong phú hình rồng, kỳ lân, lưỡng long chầu nguyệt khá tinh xảo, uyển chuyển, tỉ mỉ đến từng chi tiết.

Trong hành trình khám phá Phố Hiến không thể thiếu chùa Chuông, được mệnh danh là “Phố Hiến đệ nhất danh thắng,” nổi tiếng bởi cảnh quan đẹp và hệ thống tượng phật phong phú, đặc sắc như Tòa Tam Bảo, Bát Bộ Kim Cương, Thập Bát La Hán, thập điện diêm vương…

Vòng quanh Phố Hiến với bán kính chừng 5km, bạn chỉ cần thuê một chiếc xe đạp, xe máy hay xích lô… cho quá trình khám phá của mình. Bạn sẽ được thưởng thức vị thanh mát của nhãn lồng, chè sen, bún thang lươn, những món ăn dân dã… đó là những lý do mà bạn nên lưu lại Phố Hiến để khám phá và trải nghiệm với cuộc sống của người dân nơi đây.

Hung Yen Department of Culture, Sports and Tourism
Hung Yen Department of Culture, Sports and Tourism
Hung Yen Department of Culture, Sports and Tourism
Hung Yen Department of Culture, Sports and Tourism

Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua nhà Trần

Khu Lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần toạ lạc tại thôn Tam Đường, xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên. Mảnh đất Long Hưng là đất phát tích, hưng nghiệp của vương triều Trần, một triều đại đã ghi vào sử sách những trang chói lọi nhất với ba lần đại thắng quân Nguyên Mông, một triều đại mà mỗi nhành cây ngọn cỏ đều thấm đẫm “Hào khí Đông A” rực lửa. Không chỉ vậy, nơi đây còn được biết đến chính là nơi đặt “huyệt thiêng” yên nghỉ vĩnh hằng của các bậc minh quân khởi đầu vương triều Trần.

Khu Lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần toạ lạc trên khu đất rộng lớn, được quy hoạch với tổng diện tích 195,01 ha. Khu di tích gồm 02 phân khu chính: Khu lăng mộ và khu đền thờ:

Khu lăng mộ, ngày nay có tổng diện tích 38.221 m2 gồm: phần Đa (tức Chiêu Lăng) là nơi an nghỉ của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh), vị vua đầu tiên của triều đại nhà Trần ở thể kỷ XIII của nước Đại Việt; phần Trung (tức Dụ Lăng) là nơi an nghỉ của vua Trần Thánh Tông – vị vua thứ hai của triều Trần, vị vua anh minh, văn võ toàn tài, giữ vững được cơ nghiệp của triều đại và độc lập quốc gia với ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông xâm lược trên cả cương vị là Thái tử và khi lên ngôi vua; phần Bụt (tức Đức Lăng) là nơi yên nghỉ của vua Trần Nhân Tông (Trần Khâm), vị vua thứ ba của triều Trần, một vị vua anh hùng, văn võ song toàn, đồng thời chính là người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Khu đền thờ gồm ba công trình thờ tự riêng biệt là Đền Vua (ở giữa), Đền Thánh (ở phía Đông, bên tả đền Vua) và Đền Mẫu (ở phía Tây, bên hữu đền Vua). Cả ba công trình này đều quay hướng Nam, hướng về ba ngôi mộ các vua Trần, được bố trí dàn hàng ngang, có chung sân lễ hội, đường nghi lễ, chung cổng đi vào. Đứng từ ngoài đường vành đai bao quanh khu di tích nhìn vào sẽ thấy các công trình kiến trúc như sau : Cổng Ngọ Môn, Trục thần đạo (đường nghi lễ), sân lễ hội, đền Vua, đền Thánh và đền Mẫu. Đầu tiên là Đền Vua được xây dựng với diện tích 6.498m2, nơi thờ ba vị vua đầu triều Trần (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông), phối thờ Thượng hoàng Trần Thừa và các vị cao tổ, tằng tổ nhà Trần cùng hai người có công mở nghiệp nhà Trần là Trần Thị Dung, Trần Thủ Độ. Tiếp theo là Đền Thánh được xây dựng theo dạng thức truyền thống, diện tích 6.011m2, gồm các hạng mục: cổng, sân tế, lầu chiêng, lầu trống, tiền tế, phương đình, trung tế, hậu cung và giải vũ,… là nơi thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, phu nhân Nguyên Từ Quốc mẫu và hai công chúa. Cuối cùng là Đền Mẫu thờ các vị quốc mẫu và công chúa đầu triều Trần, tổng diện tích 6.228 m2, với các hạng mục chính: giếng ngọc, bình phong, sân tế, giải vũ, tiền tế, trung tế và hậu cung.

Khu Lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần không chỉ mang trong mình giá trị lớn lao về lịch sử của một triều đại kiêu hùng, rực rỡ bậc nhất thời kỳ phong kiến mà tụ thân khu di tích còn mang giá trị văn hóa vô cùng sâu sắc. Hằng năm, lễ hội truyền thống tại khu di tích diễn ra từ ngày 13 đến ngày 16 tháng Giêng để tưởng nhớ các vị vua, hoàng hậu, quan văn bá võ cùng tôn thất triều Trần đã có công với nước với dân.

Hung Yen Department of Culture, Sports and Tourism

Di tích quốc gia đặc biệt chùa Keo - Kiệt tác nghệ thuật bằng gỗ lim

Nằm tại xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên, Chùa Keo (tên chữ: Thần Quang Tự) được xây dựng từ năm 1632 dưới thời Lê. Đây là một di tích quốc gia đặc biệt, nổi tiếng với kiến trúc gỗ tinh xảo và quy mô rộng lớn, được đánh giá là một trong những công trình chùa chiền cổ bậc nhất Việt Nam, một địa danh không thể bỏ qua khi đến mảnh đất Hưng Yên.

Theo văn bia cổ, diện tích toàn khu của ngôi chùa rộng 28 mẫu (100.800m²). Hiện nay, diện tích khu di tích là hơn 41.500m². Các công trình trong ngôi chùa được sắp xếp theo lối “nội nhị công, ngoại nhất quốc”, tạo nên sự cân đối hài hòa, bố trí theo hướng kéo dài từ Tam quan ngoại đến Gác chuông theo hướng Bắc – Nam, được gọi là Trục thần đạo trong phong thuỷ kiến trúc. Du khách đến với chùa Keo sẽ được ngắm nhìn những kiến trúc cổ lâu đời được tạo tác hoàn toàn bằng gỗ với hoạ tiết chạm khắc vô cùng tinh xảo thể hiện thẩm mỹ tinh hoa của người Việt xưa, tiêu biểu trong đó như các công trình Tam quan ngoại, Tam quan nội, Chùa Phật, Toà Tam bảo, Đền Thánh, Toà Thượng điện, Toà Giá Roi, đặc biệt là Gác chuông bằng gỗ cao nhất Việt Nam… tất cả tạo thành một quần thể kiến trúc cổ uy nghi, trường tồn cùng thời gian gần 400 năm.

Được đánh giá là một kiệt tác nghệ thuật độc đáo được làm từ gỗ, chùa Keo hiện đang lưu giữ nguyên vẹn 02 bảo vật Quốc gia. Đó là hai bộ cánh cửa gỗ chạm khắc hình tượng rồng, một kiệt tác nghệ thuật của người xưa có niên đại thế kỷ 17, đặt ở cửa chính tam quan nội chùa Keo, được công nhận là bảo vật quốc gia năm 2017 và hương án bằng gỗ quý được tạo tác thời Lê Trung Hưng, thế kỷ 17, được công nhận bảo vật quốc gia năm 2021.

Lễ hội Chùa Keo là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của tỉnh Hưng Yên, diễn ra theo lệ “Xuân Thu nhị kỳ” – mỗi năm hai lần: mùa Xuân vào mùng 4 tháng Giêng và mùa Thu vào trung tuần tháng Chín âm lịch. Đây là dịp cầu quốc thái dân an, thu hút đông đảo du khách thập phương.

Source: hungyentourism.com.vn

Khu du lịch sinh thái Cồn Vành

Khu du lịch sinh thái Cồn Vành tại xã Hưng Phú, Hưng Yên là một bức tranh thiên nhiên hoang sơ đầy quyến rũ, được hình thành từ quá trình bồi tụ phù sa của sông Hồng qua nhiều năm. Với diện tích gần 1.700 ha, nơi đây sở hữu hệ sinh thái đa dạng: gần một nửa diện tích là rừng ngập mặn xanh mướt, cùng 56 ha rừng phi lao rì rào trong gió, ôm lấy bờ biển dài 6 km.

Khí hậu đặc trưng miền Bắc khiến mùa hè trở thành thời điểm lý tưởng để du khách tìm đến Cồn Vành “giải nhiệt.” Từ tháng 4 đến tháng 9, trời nắng đẹp, biển lặng, thích hợp cho những hoạt động vui chơi ngoài trời, thưởng thức hải sản tươi ngon và tận hưởng không khí trong lành.

Điểm đặc biệt của bãi biển Cồn Vành là lớp cát được bồi đắp từ phù sa, không mịn như nhiều bãi biển khác nhưng lại mang vẻ đẹp mộc mạc, gần gũi. Nước biển trong xanh, sóng nhỏ, độ sâu vừa phải, tạo nên không gian an toàn để trẻ em và gia đình thỏa sức vui đùa. Đến Cồn Vành, du khách sẽ cảm nhận được sự giao hòa giữa biển cả và rừng xanh, một chốn bình yên để tìm về với thiên nhiên.

Source: hungyentourism.com.vn
Source: hungyentourism.com.vn

Biển Vô Cực

Biển Vô Cực ở Hưng Yên, còn gọi là biển Quang Lang, là một trong những cảnh biển độc đáo và huyền ảo nhất Việt Nam. Nằm bên bờ sông Diêm Hộ, bãi biển rộng khoảng 10 km² mang vẻ đẹp nguyên sơ, tĩnh lặng, như một miền thực tại pha chút mơ hồ. Đây là nơi lý tưởng cho những ai muốn tìm về thiên nhiên và tận hưởng sự bình yên.

Điểm đặc biệt khiến Biển Vô Cực trở thành “thiên đường sống ảo” chính là khoảnh khắc khi thủy triều rút, mặt biển phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ phản chiếu bầu trời. Sự kết hợp giữa bãi cát nâu sẫm và làn nước tĩnh lặng tạo nên khung cảnh huyền ảo, khiến du khách ngỡ như đang bước vào một thế giới khác.

Không chỉ có cảnh đẹp, nơi đây còn mang đến trải nghiệm đời thường đầy thi vị: ngắm nhìn người dân địa phương đánh bắt thủy hải sản vào buổi sớm, cảm nhận nhịp sống mộc mạc và hòa mình vào không gian yên tĩnh.

Thời điểm lý tưởng để khám phá Biển Vô Cực là từ tháng 7 đến tháng 10, khi tiết trời chuyển từ hạ sang thu, mát mẻ dễ chịu với nhiệt độ khoảng 23–24°C. Đây cũng là lúc ánh sáng và khung cảnh trở nên hoàn hảo cho những bức ảnh lung linh, ghi lại khoảnh khắc “vô cực” giữa biển trời.

Hung Yen Department of Culture, Sports and Tourism

Những làng nghề truyền thống đặc sắc

Làng nghề dệt đũi Nam Cao

Làng nghề dệt đũi Nam Cao, nay thuộc xã Lê Lợi, Hưng Yên, là nơi lưu giữ tinh hoa của nghề dệt lụa truyền thống hơn 400 năm tuổi. Từ những khung dệt thủ công có tuổi đời hàng chục, thậm chí hàng trăm năm, người thợ Nam Cao tạo nên vô vàn sản phẩm phong phú: khăn lụa đũi, áo dài, áo bà ba, vải lụa, gối tựa… Mỗi công đoạn – từ chọn nguyên liệu, kéo sợi, dệt lụa cho đến nhuộm màu – đều đòi hỏi sự tỉ mỉ, sáng tạo và tâm huyết. Với giá trị văn hóa đặc sắc, nghề dệt đũi Nam Cao đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đến với làng nghề, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng những tấm lụa óng ánh, những chiếc khăn nhiều màu sắc mà còn có thể tự tay tham gia vào quá trình dệt, nhuộm, để cảm nhận trọn vẹn sự tinh tế của nghề truyền thống.

Làng nghề dệt chiếu Hới

Làng nghề dệt chiếu Hới ở xã Long Hưng, Hưng Yên là một điểm đến mang đậm hồn quê Việt, nơi lưu giữ nghề truyền thống đã tồn tại hơn một nghìn năm. Băng qua những cánh đồng lúa xanh mướt, du khách sẽ bắt gặp khung cảnh nhộn nhịp của hơn 3.000 hộ dân, trong đó có tới 80% gia đình vẫn miệt mài với nghề dệt chiếu – một nghề được truyền lại từ thời Tiền Lê – Lý và phát triển rực rỡ dưới thời Hậu Lê. Điều làm nên sự khác biệt của chiếu Hới chính là kỹ thuật tinh xảo và sự tỉ mỉ trong từng công đoạn. Nguyên liệu chính là cói và sợi đay – những loài cây được trồng ở vùng đất phù sa màu mỡ giữa sông Hồng và sông Luộc. Người thợ Hới với đôi bàn tay khéo léo đã biến những sợi cói mộc mạc thành những tấm chiếu đa dạng, mang họa tiết chữ thọ, chữ lồng hay hoa lá. Đến với làng nghề chiếu Hới, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng những chiếc chiếu đẹp hoàn hảo mà còn có cơ hội trải nghiệm trực tiếp việc se sợi cho đến ngồi bên khung dệt, lắng nghe tiếng thoi đưa rộn ràng.

Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm

Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm, thuộc xã Trà Giang, Hưng Yên, là một trong những cái nôi nghệ thuật kim hoàn lâu đời nhất Việt Nam, với lịch sử hơn 600 năm. Thời kỳ hưng thịnh, các nghệ nhân Đồng Xâm đã đi khắp đất nước để truyền bá kỹ nghệ chạm bạc. Đặc biệt, vào thời Nguyễn, họ từng vào kinh đô Huế để chế tác cung kiếm, đồ trang sức cho triều đình, và chính họ cũng là những người đặt nền móng cho phố Hàng Bạc nổi tiếng ở Hà Nội ngày nay. Điều đặc biệt là nhiều công đoạn vẫn được giữ nguyên thủ công, để từng đường nét chạm khắc mang đậm dấu ấn bàn tay con người – sự tỉ mỉ, tinh tế mà máy móc không thể thay thế. Đến với làng nghề Đồng Xâm, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những sản phẩm bạc lấp lánh, từ đồ trang sức, vật dụng gia đình cho đến các tác phẩm nghệ thuật độc bản.

Làng nghề trồng hoa, cây cảnh

Đến các làng nghề trồng hoa, cây cảnh Văn Giang, Phụng Công, Mễ Sở và Nghĩa Trụ, du khách dễ dàng bắt gặp những vườn hồng, cúc, đồng tiền, hoa giấy, hoa lan,… đua nhau khoe sắc. Xen giữa là những thế bonsai, sanh, si, lộc vừng, tùng la hán, quất cảnh, bưởi cảnh được tạo dáng công phu, thể hiện bàn tay tài hoa và sáng tạo, sự kiên nhẫn của người làm nghề. Dạo bước giữa những khu vườn xanh mát, du khách không chỉ thỏa sức ngắm hoa, cây cảnh và ghi lại những khoảnh khắc đẹp, mà còn có cơ hội trò chuyện cùng những người nông dân cần mẫn, lắng nghe câu chuyện về kỹ thuật chăm sóc mỗi gốc cây, mỗi thế dáng. Vào mỗi dịp lễ, Tết, các làng hoa, cây cảnh trở nên nhộn nhịp, tấp nập, những chuyến xe chở đầy hoa và cây cảnh tỏa đi khắp nơi, mang theo sắc xuân, niềm vui và thành quả lao động của người dân đến với mọi miền.

Làng nghề làm nhang truyền thống

  • Làng hương Cao Thôn: Cách Phố Hiến khoảng 9km, làng hương Cao Thôn (phường Sơn Nam, Hưng Yên) đã tồn tại gần 300 năm, lưu giữ bí quyết làm hương truyền thống với mùi thơm đặc trưng. Mỗi gia đình, mỗi dòng họ nơi đây lại sáng tạo những công thức riêng, kết hợp thảo mộc như quế chi, đinh hương, lá hương, nhiều loại thảo mộc quý như quế, hồi, thảo quả, đinh hương, cây tùng… vừa mang lại cảm giác thư giãn, dễ chịu, vừa tốt cho đường hô hấp, hỗ trợ an thần, tạo nên sự đa dạng và độc đáo. Hiện nay, làng hương Cao Thôn có khoảng 200 hộ vẫn giữ nghề. Các nghệ nhân lựa chọn nguyên liệu kỹ lưỡng, nghiền thành bột mịn, trộn cùng keo rồi se thành từng nén hương bằng tay, giữ nguyên nét thủ công tinh xảo.
  • Làng hương Lai Triều: Thôn Lai Triều, nay thuộc xã Thuỵ Anh, tỉnh Hưng Yên cũng là một làng nghề làm hương lâu đời, hơn 300 năm tuổi. Hương Lai Triều nổi tiếng bởi mùi thơm dịu nhẹ, không quá nồng, nhờ nguyên liệu hoàn toàn từ cây cỏ tự nhiên. Dân gian từng ca ngợi: “Mía Thu Cúc, thóc Trường Sơn Lạc khoai Bái Thượng, hương thơm Lai Triều.” Nguyên liệu của hương Lai Triều là mía, rễ cây hương bài phơi khô, tăm tre, than hoa và nhựa trám. Sau khi được làm thủ công, hương được bó và phơi khô tự nhiên, giữ mùi thơm thuần khiết.

Đến với làng nghề hương, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những bó hương vàng đỏ phơi đầy sân, tận hưởng hương thơm thoang thoảng lan khắp không gian yên bình của làng quê, trải nghiệm quy trình làm hương – một trải nghiệm thú vị gắn liền với văn hóa truyền thống.

Hung Yen Department of Culture, Sports and Tourism
Hung Yen Department of Culture, Sports and Tourism
Source: hungyentourism.com.vn
Hung Yen Department of Culture, Sports and Tourism
Source: hungyentourism.com.vn
Source: hungyentourism.com.vn

Nghệ thuật hát chèo

Nghệ thuật hát chèo – loại hình sân khấu cổ truyền đặc trưng của văn hóa Việt – là sự hòa quyện tinh tế giữa kịch hát, múa dân gian và âm nhạc truyền thống. Xuất phát từ vùng châu thổ Bắc Bộ, chèo gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng, thường được trình diễn ở sân đình nên còn gọi là chèo sân đình.

Điểm độc đáo của chèo nằm ở việc khai thác các tích truyện dân gian, truyện Nôm, đưa lên sân khấu những câu chuyện phản ánh đời sống lao động, tình cảm, ước mơ của người nông dân, đồng thời khuyến thiện, trừ ác và châm biếm bất công xã hội. Nhân vật trong chèo mang đậm tính biểu tượng: thư sinh nho nhã, nữ chính đức hạnh, hay những vai phản diện như mụ ác, nữ lệch lẳng lơ. Mỗi nhân vật khi xuất hiện đều tự xưng danh, tạo nên nét đặc trưng riêng biệt.

Nghệ thuật chèo còn gây ấn tượng bởi sự kết hợp linh hoạt giữa hát, nói, múa và hóa trang, mang đậm phong vị dân gian vùng sông Hồng. Đặc biệt, phong cách chèo Hưng Yên nổi bật với sự sáng tạo trong cách đệm nhạc, sử dụng bốn loại nhạc cụ để tạo âm thanh độc đáo, vừa làm nền vừa tăng tính kịch cho vở diễn.

Dù ngày nay chèo không còn phổ biến rộng rãi như trước, những nghệ sĩ vẫn miệt mài giữ nghề, truyền lửa đam mê và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Mỗi làn điệu chèo vang lên không chỉ là âm nhạc, mà còn là ký ức, là hồn quê, là biểu tượng sống động của văn hóa Việt Nam.

Hung Yen Department of Culture, Sports and Tourism

Những đặc sản phải thử

Nhãn lồng Hưng Yên

Từ lâu, trái nhãn đã trở thành biểu tượng của đất và người Hưng Yên, đi vào ca dao, thơ ca như một niềm tự hào không thể thiếu. Người ta ví Hưng Yên là “thủ đô” của cây nhãn, còn nhãn lồng nơi đây chính là “vua” của các loài nhãn.

Mỗi độ tháng 6 âm lịch, mùa nhãn về, khắp nẻo đường Hưng Yên đều ngập tràn sắc vàng nâu của những chùm nhãn trĩu quả. Nhãn lồng Hưng Yên nổi tiếng bởi quả to, tròn, da láng mịn, cùi dày trắng ngà, giòn trong như hổ phách, vị ngọt lịm, mát lành và hương thơm dịu nhẹ. Chỉ cần bóc lớp vỏ mỏng, đã thấy hiện ra phần cùi nhãn hấp dẫn, khiến thực khách khó lòng cưỡng lại.

Không chỉ là loại quả ngon, nhãn còn là món quà mà thiên nhiên ban tặng cho đất Hưng Yên. Gỗ nhãn rắn chắc, đỏ hồng, dùng đóng đồ gia dụng rất bền. Đặc biệt, người dân nơi đây còn sáng tạo ra long nhãn – vị thuốc bổ âm quý giá. Cùi nhãn tươi được tách riêng, phơi khô thành những múi dẻo quánh, màu nâu sẫm, giữ nguyên hương thơm và vị ngọt sắc như đường phèn. Long nhãn có thể ăn trực tiếp, ngâm rượu hay hãm trà, giúp ngon miệng, ngủ sâu giấc và tinh thần thư thái.

Khách phương xa mỗi lần ghé Hưng Yên đều tìm mua vài túi long nhãn vàng óng mang về làm quà. Đó không chỉ là món đặc sản, mà còn là hương vị quê hương, là ký ức ngọt ngào của vùng đất phù sa sông Hồng.

Source: hungyentourism.com.vn
Source: hungyentourism.com.vn

Bánh cáy làng Nguyễn

Từ bao đời nay, bánh cáy đã trở thành niềm tự hào của làng Nguyễn, gắn liền với những câu chuyện dân gian thú vị. Có người bảo tên gọi xuất phát từ hình dáng bánh giống trứng con cáy, lại có người kể rằng xưa kia bánh được dâng vua, vị ngọt bùi hòa cùng cay nồng của gừng khiến vua hỏi tên, quan địa phương đáp là “bánh cay”, rồi dân gian đọc chệch thành “bánh cáy”.

Để làm nên chiếc bánh cáy dẻo thơm, người thợ phải trải qua một quá trình công phu. Nguyên liệu đều là sản vật thiên nhiên: gạo nếp cái hoa vàng, gấc đỏ au, quả dành dành, lạc, vừng, gừng, cà rốt, vỏ quýt, dừa, mật mía và mỡ lợn. Mỡ lợn được ngâm đường cả nửa tháng, xào giòn trong suốt. Gạo nếp chia ba phần: thổi xôi với gấc và dành dành, giã nhuyễn rồi sấy khô; phần còn lại làm bỏng giòn tan. Vừng, lạc rang thơm, cà rốt và vỏ quýt xào cùng nước gừng, mật mía.

Khi tất cả nguyên liệu đã sẵn sàng, người thợ khéo léo sên trên chảo, đổ vào khuôn gỗ lót vừng rang, ép chặt rồi phủ thêm lớp vừng và dừa bào. Bánh cứng lại, được cắt thành từng khoanh đều tăm tắp. Nhờ quy trình truyền thống, bánh cáy có thể bảo quản hàng tháng mà vẫn giữ nguyên hương vị.

Một miếng bánh cáy chuẩn vị làng Nguyễn phải hội đủ: hương thơm của vừng, lạc, vỏ quýt; vị béo của mỡ và dừa; vị ngọt thanh của mật mía; chút cay nồng của gừng. Thưởng thức cùng tách trà sen nóng, hương vị ấy vừa dân dã vừa tinh tế, khiến bánh cáy trở thành món quà quê đặc sản nổi tiếng của Hưng Yên.

Source: hungyentourism.com.vn

Gỏi nhệch

Gỏi nhệch được xem là món ăn cầu kỳ và tinh tế bậc nhất trong những món ăn từ hải sản của vùng Thái Thuỵ, Hưng Yên. Nguyên liệu chính là cá nhệch – loài cá có hình dáng gần giống lươn, sống ở các đầm phá ven biển. Người dân phải dùng tro để làm sạch lớp nhớt trên mình cá, sau đó mới đem đi chế biến.

Với món gỏi nhệch, cá sau khi sơ chế được thái lát mỏng, trộn cùng thính gạo rang thơm. Phần da cá được cắt riêng, chiên giòn tạo độ béo ngậy. Xương cá được giã nhuyễn, nấu thành món nước chấm đặc biệt gọi là chẻo. Chẻo được pha cùng gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu, sả băm nhỏ, tạo nên hương vị đậm đà, cay nồng, khó lẫn.

Khi thưởng thức, người Hưng Yên thường cuốn gỏi nhệch với lá sung, rau sống rồi chấm cùng chẻo. Vị dai giòn, ngọt bùi của cá hòa quyện với vị béo ngậy của chẻo, hương thơm của thính, gừng, sả, ớt và các loại rau khiến món ăn trở thành trải nghiệm ẩm thực khó quên.

Source: hungyentourism.com.vn

Những món ăn ngon từ rươi

“Bao giờ cho đến tháng mười/Bát cơm thì trắng, bát rươi thì đầy”. Câu ca dao nhắc đến một sản vật tự nhiên còn gọi là “lộc trời” hay “rồng đất”. Rươi thường xuất hiện theo con nước thủy triều, cho thu hoạch vào tháng 9, tháng 10 âm lịch hàng năm trên các cánh đồng nước lợ ở xã Bắc Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên.

Rươi là nguyên liệu bổ dưỡng, có thể chế biến thành nhiều món ngon: Chả rươi – rươi đánh nhuyễn cùng thịt xay, trứng, lá lốt, thì là và không thể thiếu chút vỏ quýt, rồi đem chiên lên cho vàng giòn; Rươi kho niêu cùng vỏ quýt, khế chua, lá gừng và thịt ba chỉ; nem rươi; rươi cuốn lá lốt….

Mỗi món ăn từ rươi đều đánh thức mọi giác quan: vị ngọt bùi, béo ngậy, cay thơm hòa quyện cùng hương vỏ quýt, thì là, gừng, …thưởng thức mỗi món ngon được chế biến từ rươi như đánh thức mọi giác quan và sự chiêm nghiệm về thời điểm, sự kiên nhẫn cùng giá trị văn hóa đặc trưng miền cửa biển.

Source: hungyentourism.com.vn

Nộm sứa

Đất nước ta, có bờ biển trải dài từ miền Bắc đến miền Nam, nộm sứa là ẩm thực có ở nhiều địa phương trên cả nước, mỗi vùng miền sẽ có cách chế biến mang hương vị và đặc trưng riêng. Tại Thái Thụy, tỉnh Hưng Yên nộm sứa được coi là đặc sản trứ danh mang hương vị thanh mát của vùng quê biển.

Để tạo ra thành phẩm đạt chất lượng thì quy trình chế biến rất cầu kì: Đầu tiên sứa tươi mang từ biển về sẽ làm sạch để loại bỏ độc tố, ướp với muối phèn tạo độ dai, giòn, rồi cắt thành các miếng mỏng, nhúng qua nước sôi. Hành tây làm sạch, thái sợi nhỏ chần qua nước sôi, sau đó vắt khô cùng với sứa đem trộn đều với thịt gà đã xé nhỏ, mực hoặc thị bò khô, lạc rang, cùi dừa, cà rốt, xoài xanh đã bào sợi, các loại rau thơm như lá chanh, một chút rau húng. Tiếp đến là công đoạn làm nước nộm, đây là yếu tố rất quan trọng có công thức đặc biệt mà chỉ người dân nơi địa phương mới pha chế được ngon. Đó là, pha nước mắm cốt ngon, đường, nước cốt chanh, tỏi băm và ớt, tạo ra hỗn hợp nước trộn đậm đà, hài hòa giữa vị chua chua, ngọt ngọt. Cuối cùng đem tất cả nguyên liệu đã làm trộn với nước nộm tới khi gia vị ngấm đều là được.

Thưởng thức nộm sứa, thực khách sẽ cảm nhận được vị giòn của sứa, quyện với vị đậm đà của nước mắm cốt, vị bùi béo của lạc rang, thơm dịu của rau thơm, cùi dừa, gà xé, mực khô và vị chua nhẹ của xoài xanh. Tất cả hòa quyện tạo thành món ăn kích thích vị giác, gây ấn tượng, mê đắm ngay từ khi nếm thử những miếng đầu tiên. Nộm sứa Thái Thụy là món ăn thanh mát có đặc trưng riêng, không lẫn với bất kỳ món nộm nào khác và đã trở thành đặc sản ẩm thực hấp dẫn mang hương vị của biển cả.

Source: hungyentourism.com.vn
Source: hungyentourism.com.vn

Gạo Hưng Yên

Từ xưa tới nay, hạt gạo đã trở thành biểu tượng gắn bó mật thiết với nền văn minh lúa nước, là kết tinh của mồ hôi, công sức và sự kiên trì của người nông dân Việt Nam. Trên vùng đất Hưng Yên trù phú, được bồi đắp bởi phù sa màu mỡ, hạt gạo không chỉ là nguồn lương thực thiết yếu mà còn mang trong mình giá trị kinh tế, văn hóa lâu đời. Từ những cánh đồng thẳng cánh cò bay, người nông dân cần mẫn gieo trồng, chọn giống, áp dụng kinh nghiệm canh tác truyền đời để tạo nên những hạt gạo thơm ngon, chất lượng ổn định, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

Tiêu biểu có gạo TBR225 nổi bật với cơm dẻo, mềm, vị ngọt bùi tự nhiên, vẫn ngon ngay cả khi nguội, gạo Bắc thơm số 7 ngọt đậm, được trồng phổ biến; nếp cái hoa vàng dùng làm xôi, bánh truyền thống với độ dẻo và hương thơm đặc trưng. Mỗi loại gạo mang một hương vị riêng, nhưng đều là kết tinh của phù sa, khí hậu thuận hòa và bàn tay cần cù của người nông dân, góp phần khẳng định danh tiếng gạo Hưng Yên tại Việt Nam.

Không chỉ dừng lại ở giá trị ẩm thực, hạt gạo Hưng Yên còn gắn bó sâu sắc với đời sống văn hóa làng quê: hiện diện trong mâm cơm gia đình, trong lễ hội truyền thống, phong tục tập quán và cả những câu chuyện dân gian về nghề trồng lúa. Hạt gạo vì thế trở thành biểu trưng cho sự no đủ, bền bỉ và tinh thần lao động cần cù của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, Việt Nam nói chung.

Source: hungyentourism.com.vn

GNGCD Awards